Những điều trên đây cho thấy thứ nhất, tác giả không thực sự quá quan tâm đến các tiểu tiết và thứ hai, Nguyễn Huy Thiệp có cảm giác rõ câu chuyện này rất quan trọng, nên đã viết truyện rồi lại còn viết thành kịch, nhưng cả hai điều trên đây đều không quan trọng bằng điều thứ ba: Nguyễn Huy Thiệp cũng không thực sự hiểu câu chuyện "Không có vua" mà mình đã viết ra. Điều này
Không Có Vua - Nguyễn Huy Thiệp ~ Chương cover . Những nỗ lực của bạn chỉ có thể đơm hoa kết trái nếu bạn quyết không bỏ cuộc. Napoleon Hill. Đăng Nhập Truyện Kiếm Hiệp; Tiên Hiệp; Tuổi Học Trò; Cổ Tích
Mọi đóng góp ý kiến xin để lại Comment bên dưới hoặc gửi về Email: khekhaquan@gmail.com.khekhaofficial@gmail.com-----?
Nguyễn Huy Thiệp mượn chuyện lịch sử để nói chuyện đời, để nói về cuộc tìm kiếm đạo - đường sống của con người nói chung, bất kể đạo ấy là một ông vua hay không phải ông vua. Không vua, không đạo sẽ loạn, có vua, có đạo, thiên hạ sẽ thái bình, con người có thể yên tâm mà sống.
Không có vua. Nguyễn Huy Thiệp. Lời giới thiệu : Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện và nổi tiếng ngay ở Việt Nam trong giai đoạn văn học được Đảng cộng sản "cởi trói" (1986-1991). Bút pháp của Nguyễn Huy Thiệp "độc đáo, lạnh lùng, sắc như dao, hiện thực đến rợn người
cash. Có sự nghiệp văn chương đồ sộ, được xem là “của hiếm”, là “hiện tượng độc đáo” thậm chí đến mức gây tranh cãi với các thể loại sáng tác gồm truyện ngắn, kịch, tiểu luận, phê bình văn học, song nhà văn Nguyễn Huy Thiệp thành công nhất là truyện ngắn… Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp 1950 – 2021 Ngày nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã rời cõi tạm sau thời gian dài chiến đấu với bệnh tật, để lại khoảng trống lớn cho văn đàn Việt Nam. Văn học đương đại Việt Nam hơn ba chục năm qua, không thể không nói tới nhà văn Nguyễn Huy Thiệp với hàng loạt truyện ngắn đưa tên tuổi ông lên hàng các tác gia kiệt xuất của văn chương Việt Nam cuối thế kỷ XX. Trong đó, các truyện “Tướng về hưu”, “Không có vua”… được coi là dấu mốc mở đầu cho thời kỳ văn học đổi mới. Nguyễn Huy Thiệp – người tạo ra bước ngoặt trong văn chương Việt Nam sau 1975 Nguyễn Huy Thiệp sinh ngày tại huyện Thanh Trì, Hà Nội. Thuở nhỏ, ông cùng gia đình lưu lạc khắp nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, từ Thái Nguyên qua Phú Thọ, Vĩnh Yên… Vì thế, nông thôn và những người lao động để lại nhiều dấu ấn khá đậm nét trong những sáng tác của ông. Năm 1970, Nguyễn Huy Thiệp tốt nghiệp khoa sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Trước khi trở thành người viết chuyên nghiệp, ông đã có nhiều năm là một thày giáo ở miền núi. Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Huy Thiệp bắt đầu khá muộn với các truyện ngắn đăng trên báo Văn Nghệ. Tuy nhiên chỉ một vài năm sau đó, cả làng văn học trong lẫn ngoài nước xôn xao những cuộc tranh luận về các tác phẩm của ông. Với hơn 50 truyện ngắn, 10 vở kịch, 4 tiểu thuyết cùng nhiều tiểu luận, phê bình văn học gây chú ý, Nguyễn Huy Thiệp được xem là một “hiện tượng hiếm” của văn đàn Việt Nam. Các thể loại của ông đa dạng từ truyện ngắn, tiểu thuyết đến cả kịch mang hơi hướng huyền thoại, cổ tích và những góc nhìn táo bạo và đa chiều về làng quê, người lao động. Tên tuổi của ông gắn liền với các truyện ngắn như “Tướng về hưu”, “Muối của rừng”, “Không có vua”, “Con gái thủy thần”, “Những người thợ xẻ”, “Thương nhớ đồng quê”, “Sang sông”… và bộ ba truyện ngắn lịch sử gồm “Kiếm sắc”, “Vàng lửa”, “Phẩm tiết”… Ba cuốn tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã được xuất bản gồm “Tiểu long nữ”, “Gạ tình lấy điểm”, “Tuổi 20 yêu dấu”. Các tác phẩm “Tướng về hưu”, “Thương nhớ đồng quê” của ông đã được chuyển thể thành tác phẩm điện ảnh và cũng đã gây tiếng vang… Truyện ngắn của ông cũng được dịch sang nhiều ngôn ngữ như Pháp, Anh, Italy, Thụy Điển, Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản, Indonesia… Năm 2007, 2008, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp liên tục nhận Huân chương Văn học Nghệ thuật của Pháp và giải thưởng Premio Nonino của Italy. Năm 2015, ông hoàn thành tiểu thuyết “Vong bướm” và quyết định dừng nghiệp sáng tác ở tuổi 65. Nguyễn Huy Thiệp cũng là một trong 50 tác giả có các tác phẩm, cụm tác phẩm xuất sắc được đề nghị xét tặng Giải thưởng Nhà nước trong lĩnh vực Văn học nghệ thuật 2021. Hai tác phẩm được đề nghị xét giải của ông là truyện ngắn “Tướng về hưu” và “Những ngọn gió Hua Tát”. Sinh thời, nhà văn Nguyễn Huy Thiệp khiêm tốn tự nhận ông “là một dạng ăn may, may mắn gặp thời” nhưng ông rất xác tín về “phẩm chất của một nhà văn”. Tác giả “Tướng về hưu” dẫn lại “lời của các cụ ngày xưa” mà ông tâm ý chính là lời nói của nhà bác học Lê Quý Đôn 1726-1784 “Văn học không phải trò chơi, là câu chuyện phiếm. Muốn văn hay phải hiểu biết và từng trải nhiều. Văn chương chữ nghĩa không phải là lời nói suông. Trong bụng không có ba vạn quyển sách, trong mắt không có núi sông kỳ lạ của thiên hạ thì không thể làm văn được”. Đánh giá về vai trò của Nguyễn Huy Thiệp trong văn chương Việt Nam từ 1975-1991, nhà phê bình La Khắc Hòa nhận định “Nguyễn Minh Châu mở đường đổi mới văn học Việt Nam sau 1975 với truyện ngắn Bức tranh. Còn Nguyễn Huy Thiệp là người đầu tiên tạo ra bước ngoặt quan trọng của đổi mới”. Nhiều nhà nghiên cứu văn học đã nhận định rằng, một mình Nguyễn Huy Thiệp không làm nên được diện mạo của nền văn học Việt Nam sau 1975 đến nay, nhưng một mình ông lại có thể đào xới lên nhiều vấn đề thuộc về bản chất văn học, tạo nên sức bật khỏi ảnh hưởng văn học trước 1975, từ đó đưa văn học Việt Nam sau 1975 đi xa hơn, vững vàng hơn trên hành trình đổi mới văn học dân tộc, hòa nhập vào biển cả văn học hiện đại của thế giới. Thấm đượm trên ngòi bút sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp là tư tưởng triết học tự nhiên, một thứ triết học nguyên sơ, bắt nguồn từ tín ngưỡng phồn thực sâu xa của nền văn hóa cổ Đông Nam Á. Những tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp một mặt là sự tiếp nối, bảo lưu nguồn mạch văn học dân gian, mặt khác lại tiếp thu tính hiện đại, đánh dấu bước ngoặt của văn học Việt Nam thời đổi mới, khai phá những chủ đề như cái phi lý, sự cô đơn, tha hóa của xã hội… hòa vào dòng chảy của chủ nghĩa hiện đại trong văn học thế giới thế kỷ XX. Bằng ngòi bút đầy bản lĩnh và tài năng sáng tạo, Nguyễn Huy Thiệp đã làm một cuộc cách mạng trong tư duy nghệ thuật so với truyền thống. Những tác phẩm của ông mang lại cho độc giả một cảm giác vừa thân quen, vừa lạ lẫm, vừa truyền thống, vừa hiện đại. Nét cá tính và phóng khoáng, không bị gò bó bởi khuôn mẫu đã khiến cho văn chương của ông có sức hút một cách kỳ lạ khó có thể diễn tả. Nguyễn Huy Thiệp – “ông vua truyện ngắn” Có sự nghiệp văn chương đồ sộ, được xem là “của hiếm”, là “hiện tượng độc đáo” thậm chí đến mức gây tranh cãi với các thể loại sáng tác gồm truyện ngắn, kịch, tiểu luận, phê bình văn học, song nhà văn Nguyễn Huy Thiệp thành công nhất là truyện ngắn. Trong các tác phẩm nổi tiếng của ông, nổi bật nhất với “Tướng về hưu” phổ biến lần đầu vào tháng 6-1987 trên Báo Văn nghệ – lúc bấy giờ Nguyễn Huy Thiệp còn là nhân viên Công ty Sách – thiết bị trường học thuộc Bộ Giáo dục và “chưa có tên tuổi gì ở trên văn đàn” như ông tự nhận. Với tác phẩm “Tướng về hưu”, điều độc đáo mà bao nhà nghiên cứu phê bình văn học, giới mộ điệu văn chương và công chúng thưởng thức từng bình phẩm, tranh luận suốt hơn 30 năm qua đó chính là câu chuyện, dòng văn độc đáo, khó ai bắt chước trên một cốt truyện lẫn nhân vật bình thường. Thật vậy, những câu đơn với giọng kể chắt lọc, súc tích của ông đi sâu vào tâm trí người đọc dẫu cho nó có chua chát hay nhẹ nhàng. Hiện thực cuộc sống, số phận con người trong xã hội sau chiến tranh từ đó được phản ánh rất mạnh mẽ bằng thủ pháp văn chương rất riêng của Nguyễn Huy Thiệp. Không có cái gì là đơn giản, một chiều trong thế giới nhân vật trong văn chương Nguyễn Huy Thiệp. Nhà nghiên cứu và phê bình văn học Vương Trí Nhàn nhận định “Nếu có một thứ “quả bóng vàng” hay là “cây bút vàng” dành để tặng cho các cây bút xuất sắc hằng năm, thì trong năm 1987 – và cả nửa đầu năm 1988 – người xứng đáng được giải trong văn xuôi ta, có lẽ là Nguyễn Huy Thiệp. Nhắc tới anh, người ta nhớ “Tướng về hưu” gây xôn xao một dạo, bởi cách viết rạch ròi, trần trụi; nhớ Muối của rừng tưởng như không đâu, hóa ra lại đượm nhiều ngụ ý âm thầm; nhớ “Một thoáng Xuân Hương” lịch duyệt mang đậm phong vị kẻ sĩ Bắc Hà; nhớ “Con gái thuỷ thần” lẫn lộn hư thực, và liều lĩnh đến tùy tiện”. Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ những người nghèo khổ, hay những người mang hình dạng kì dị… tuy mang dáng dấp cổ tích, nhưng lại chất chứa những cảm giác thời hiện đại. Họ luôn luôn dấn thân trên con đường đi tìm hạnh phúc, đi tìm cái Chân, Thiện, Mỹ tuyệt đối, để rồi nhận được những bài học cay đắng, xót xa. Với tuyên ngôn “Tôi căm ghét sâu sắc những kết thúc có hậu”, những truyện ngắn “giả cổ tích”, “giả truyền kỳ” của Nguyễn Huy Thiệp hầu hết đều kết thúc không có hậu. Nó mở ra những dự cảm, những cảm xúc tái tê đằng sau khối cô văn lạnh lùng của một cây bút tỉnh táo, sắc nhạy, khiến cho người đọc cứ thế ngấm dần, ngấm dần và xoáy theo luồng xúc cảm cùng những nhân vật. Với giọng văn “lạnh”, tác giả đã thể hiện một thái độ dửng dưng tuyệt đối đối với nội dung tư tưởng được thể hiện trong tác phẩm. Qua giọng văn ấy, thế giới nhân vật, nội dung câu chuyện luôn hiện ra một chất trung thực, khách quan trước mắt người đọc. Người đọc được tách biệt hoàn toàn so với thiên kiến của tác giả. Độc giả được tự do phán xét nhân vật theo chủ kiến của mình. Trong nhiều truyện ngắn “Không có vua”, “Những bài học nông thôn”, “Tướng về hưu”… tác giả cũng nhập vào vai người kể chuyện nhân vật xưng “tôi” nhưng vẫn cố ý tách ra khỏi câu chuyện để đảm bảo tính khách quan. Để tạo ra được giọng văn “lạnh”, Nguyễn Huy Thiệp dùng nhiều câu trần thuật ngắn gọn, súc tích, mang đậm tính liệt kê. Nguyễn Huy Thiệp rất chuộng dùng câu đơn. Đối với loại câu đơn có xuất hiện thành phần phụ thì thành phần phụ thường được tách ra bằng dấu phẩy. Riêng câu ghép, các vế cũng được tách ra rạch ròi. Điển hình “Cha tôi tên Thuấn, con trưởng họ Nguyễn. Trong làng, họ Nguyễn là họ lớn, số lượng trai đinh có lẽ chỉ thua họ Vũ. Ông nội tôi trước kia học Nho, sau về dạy học. Ông nội tôi có hai vợ. Bà cả sinh được cha tôi ít ngày thì mất, vì vậy ông nội tôi phải tục huyền. Bà hai làm nghề nhuộm vải…” “Tướng về hưu”; hay “Cấn là con trưởng. Dưới Cấn có bốn em trai, chênh nhau một, hai tuổi. Đoài là công chức ngành giáo dục, Khiêm là nhân viên lò mổ thuộc Công ty thực phẩm, Khảm là sinh viên đại học. Tốn, con út, bị bệnh thần kinh, người teo tóp, dị dạng. Nhà lão Kiền sáu người. Toàn đàn ông” “Không có vua”… Những câu văn sắc lạnh dửng dưng như thế có mặt khắp các trang văn của Nguyễn Huy Thiệp. Nó tạo cho tác giả một nét riêng độc đáo về phong cách. Có thể thấy, hầu hết những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp đều chứa đựng một hoặc vài lời triết lý của ông về văn chương. Điều đó chứng tỏ, Nguyễn Huy Thiệp là người hay trăn trở về văn chương và ý nghĩa của nó. Những triết lý đó, được phát biểu gián tiếp qua các nhân vật, qua tình huống truyện hoặc đôi khi phát biểu một cách trực tiếp. Trước đây, Nam Cao cũng thường thể hiện những quan niệm của mình trên trang viết của mình. Nhưng với Nguyễn Huy Thiệp, văn chương không đơn giản và rành mạch như Nam Cao. Cái nhìn của ông về văn chương có gì đó rất phức tạp – phức tạp như chính cuộc đời, khi thì “văn chương là thứ bỉ ổi nhất” “Chút thoáng Xuân Hương”, khi thì “văn chương có cái gì từa tựa lẽ phải” “Giọt máu”, khi thì “văn chương có nhiều thứ lắm. Có thứ văn chương hành nghề kiếm sống, có thứ văn chương sửa mình, có thứ văn chương trốn đời, trốn việc. Lại có thứ văn chương làm loạn” “Giọt máu”. Những triết lý đó đã phá vỡ cái khuôn mẫu, từ đó chính ông đã dùng ngòi bút và con mắt tinh tường của mình khiến huyền thoại hóa giải huyền thoại, dùng cổ tích để hóa giải cổ tích. Tinh thần “tự phê”, “tự nghiệm”, ý thức phản tỉnh và tra vấn đã làm nên sức mạnh và giá trị của truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp. Cái tâm của nhà văn, không gì khác hơn, chính là sự thức nhận về sứ mệnh “khơi gợi chân lý”, tra vấn nhân tâm của người nghệ sĩ. Đồng thời, tinh thần nghệ thuật hiện đại cũng không cho phép một sự ban phát chân lý cuối cùng, một tư thế độc thoại giữa nhà văn và bạn đọc. Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp mang màu sắc dân chủ và hiện đại bởi đó là những tác phẩm “mở”, ở đó, cả người viết và người đọc đều được đẩy vào một cuộc đối thoại lớn và nhà văn “để ngỏ cuộc đối thoại đó mà không đánh dấu chấm hết”. Sự ra đi của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã để lại một khoảng trống rất lớn đối với văn đàn Việt Nam. Đối với nhà văn Nguyễn Văn Thọ “Nguyễn Huy Thiệp mất, tôi mất đi một bạn văn lớn – người chia sẻ với tôi rất nhiều về bút pháp, về vị trí và vai trò của nhà văn trong xã hội. Đồng thời, sự ra đi của anh, tạo ra một lỗ thủng đối với văn đàn Việt Nam”. Còn theo nhà phê bình Văn Giá “trước Nguyễn Huy Thiệp, văn học Việt Nam khác. Từ Nguyễn Huy Thiệp trở đi, văn học Việt Nam khác. Ông đã cắm một dấu mốc rất ghê gớm và quan trọng vào đời sống văn học Việt Nam. Trong đổi mới, có những đổi mới từ từ, từ người này đến người kia. Nhưng Nguyễn Huy Thiệp xuất hiện năm 1987, đã gây nên một dấu ấn đậm nét. Ông tạo ra một cảm quan, cái nhìn mới về đời sống, dẫn đến một hướng viết mới, một ngôn ngữ mới, một cách biểu đạt mới trong văn xuôi Việt Nam hiện đại. Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp có sứ mệnh đổi mới văn học; và ông đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh của mình”. Nhà thơ Trần Đăng Khoa cũng rất đau buồn khi nền văn học nước nhà mất đi một cây đại thụ. Theo ông “thời kỳ 1985-1996, ở mảng truyện ngắn, không ai viết hay hơn Nguyễn Huy Thiệp. Giọng văn của ông có chất riêng, ngắn gọn, sắc nét, không dông dài. Điều mừng là cuối đời ông có tên trong danh sách xét tặng giải thưởng Nhà nước. Đó là ghi nhận xứng đáng cho tài năng của ông”. DIỆP NINH/ TTXVN Xem thêm Nhà thơ Nguyễn Duy “Tôi viết bằng cái tình, cái hồn của dân” Loài người có bớt ngạo mạn? Khi thơ là “phong cách của tư tưởng” Truyện ngắn Phạm Hữu Hoàng Trăng lạnh Thơ 1-2-3 Nguyễn Đinh Văn Hiếu Lửa ngoài trời mà đốt cháy tâm can
Ngày này năm xưa xem ở kia; đó là lần cuối cùng tôi có conference trước công chúng rộng rãi; ngay sau đó tôi ngừng hẳn công việc đó lại, vì thấy quá mức vô nghĩa. Về sau có dăm ba lần nữa nhưng chỉ là miễn cưỡng vì nghĩa vụ. - "Không có vua" đương nhiên có thể coi là phần trích ra từ một câu đầy đủ hơn, chẳng hạn "Bởi vì không có vua, cho nên...", và ở đây rất dễ dàng liên tưởng đến Nietzsche, người dường như đã tận mắt nhìn thấy Chúa bỏ đi. Nietzsche đã viết một loạt tác phẩm xoay quanh vấn đề có ý nghĩa duy nhất sau khi "Chúa đã bỏ đi" đạo đức. Có một chỗ, thuộc loạt tác phẩm xoay quanh đạo đức này, cụ thể là trong Morgenröthe Bình minh, Nietzsche nói đến chuyện thay vào chỗ của Chúa có thể là gì, và bảo đó là tiền. Điều này không khác khi, trong truyện "Không có vua", nhân vật Khiêm trả lời nhân vật Tốn khi Tốn hỏi "Tiền là gì?" "Là vua". * * * "Không có vua" là truyện ngắn tham vọng nhất của Nguyễn Huy Thiệp, nhưng chưa bao giờ được hưởng một sự phân tích hữu hiệu. Có lẽ vì tham vọng của nó quá lớn, vượt hết tầm nhìn của mọi nhà diễn giải. Trong câu chuyện phê bình văn chương Nguyễn Huy Thiệp rất phong phú, người ta tập trung nhiều nhất vào những truyện ngắn nào có tên người cụ thể, một cái tên từng tồn tại, nhất là xoay quanh Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh, vân vân. Những quan tâm thuộc kiểu khác thì tập trung vào "Tướng về hưu", "Con gái thủy thần", "Những người thợ xẻ", "Thương nhớ đồng quê", vân vân. Nguyễn Huy Thiệp đã thực hiện một công việc rất bền bỉ nhìn xuyên qua sương mù để viết lại câu chuyện của hàng loạt nhân vật từng tồn tại, những nhân vật bị sương mù phủ lên nhiều nhất; mọi chân dung mà Nguyễn Huy Thiệp từng vẽ đều đúng một cách văn chương và theo lối tâm lý. Như trên đã nói, ở tầng thứ nhất, "Không có vua" gợi ngay đến Nietzsche, tức là gợi ngay đến thời khắc xuất hiện của con người hiện đại, đi kèm với đó là thân phận của con người này thân phận không còn được hưởng các mệnh lệnh đạo đức, vì các mệnh lệnh này không còn đầy đủ ý nghĩa như trước. Nhưng đó chỉ là tầng thứ nhất, một gợi ý nhỏ. Bất kỳ ai từng đọc "Không có vua" đều nhận ra những cái tên riêng dường như có nhiều chủ ý. Ông bố của gia đình "Nguyễn Sĩ" này tên là Kiền, năm con trai lần lượt là Cấn, Đoài, Khiêm, Khảm, Tốn, trong đó Tốn bị bệnh thần kinh. Cô con dâu thì tên là Sinh. Nhiều người đã nói đến tính chất bát quái của câu chuyện, nhưng tất cả đều bỏ rơi ngay chính gợi ý lớn nhất và nhiều ý nghĩa nhất này, có lẽ vì sau khi suy nghĩ một lúc thì thấy mấy cái tên ấy chẳng gợi lên một điều gì cụ thể, có lẽ tác giả chỉ đặt thế cho vui. Cũng có thể là vậy, nhưng cũng có thể là hoàn toàn ngược lại. Kiền, ông bố, là quẻ Càn, nhưng lục tung truyện này lên sẽ không thấy "Khôn" hay bất kỳ điều gì có thể gợi đến ý tưởng về quẻ "Khôn". Có đủ cặp Cấn-Đoài nhưng hai cặp còn lại đều thiếu một nửa giống như ở trường hợp Càn-Khôn có Tốn nhưng không có Chấn và có Khảm nhưng không có Ly. Và nhất là, người con chính giữa, Khiêm, hoàn toàn không phải tên một quẻ của bát quái. Điều này là quái lạ trong mô hình của "Không có vua". Đây chính là gợi ý lớn thứ hai. Từ hai điều trên đây, kết luận duy nhất có thể rút ra là gia đình "Nguyễn Sĩ" tượng trưng cho một bát quái, nhưng là một bát quái thiếu, và có một yếu tố "lạc quẻ", là Khiêm, nhân vật làm "nhân viên lò mổ thuộc Công ty thực phẩm". Sự cố kết của cái thế giới này với tư cách một bát quái không được thể hiện rõ trong "Không có vua", nhưng khi được viết lại thành kịch nhan đề "Quỷ ở với người" hoặc "Gia đình" thì tác giả cho thấy rất rõ ý đồ của mình trong kịch ấy nói rõ, Sinh về nhà "Nguyễn Sĩ" nghĩa là lấy cả bố con nhà này, trong đó Cấn chỉ đóng vai đại diện. Dễ dàng nhận ra là cách sắp xếp câu chuyện đã khiến cho đứa con sinh ra ở cuối, ta không thể chắc cụ thể là con của ai, khả năng chia đều cho cả sáu người, trong đó thậm chí khả năng Cấn là bố đứa trẻ còn nhỏ nhất tác giả cũng đã gieo ngay từ đầu mầm mống của nghi ngờ "Sinh không phải là người có nhiều định kiến hẹp hòi. Hơn nữa, trong tính cách, thậm chí ở cô có phần phóng túng". Nhưng khi thiết lập liên hệ giữa "Không có vua" và vở kịch rút ra từ đó, cũng cần để ý đến những khác biệt, ví dụ trong truyện thì "Dưới Cấn có bốn em trai, chênh nhau một, hai tuổi" điều này hoàn toàn trái ngược với vở kịch, trong đó cho biết Cấn 38 tuổi, Khiêm là em cách Cấn một mình Đoài thì 29 tuổi, mà Khảm còn là sinh viên đại học, tức là khoảng cách tuổi giữa họ không phải là "một, hai" như trong truyện đã nói. Những điều trên đây cho thấy thứ nhất, tác giả không thực sự quá quan tâm đến các tiểu tiết và thứ hai, Nguyễn Huy Thiệp có cảm giác rõ câu chuyện này rất quan trọng, nên đã viết truyện rồi lại còn viết thành kịch, nhưng cả hai điều trên đây đều không quan trọng bằng điều thứ ba Nguyễn Huy Thiệp cũng không thực sự hiểu câu chuyện "Không có vua" mà mình đã viết ra. Điều này, một cách rất logic, khiến cho các nhà phê bình chẳng hiểu nốt. Xung quanh "Không có vua" cho tới giờ phút này là những bình luận trời ơi đất hỡi về nhân tính, về sự băng hoại của đạo đức, về sự suy sụp của gia đình Việt Nam, tình cảnh cuộc sống hậu chiến, vân vân, tức là toàn những thứ rất tầm phào và chẳng nói lên một điều gì hết. Nhìn tổng quát, câu chuyện phê bình văn chương Nguyễn Huy Thiệp gần như gồm toàn những làm xàm nhảm nhí, mà khởi đầu là nhận xét về đặc tính nữ, phát ngôn của Hoàng Ngọc Hiến; điều Hoàng Ngọc Hiến nói hiển nhiên sai. Dẫu có thiếu, bát quái của "Không có vua" vẫn cần được nhìn nhận thật cẩn thận. Bát quái là biểu hiện theo phương vị, kèm một số ý nghĩa cơ bản, của vũ trụ. Cấu trúc của "Không có vua" cũng rất cần được quan tâm. Nó có bảy phần, "Gia cảnh", "Buổi sáng", "Ngày giỗ", "Buổi chiều", "Ngày Tết", "Buổi tối" và "Ngày thường". Dường như chưa ai nhìn thấy, ở các truyện có dung lượng lớn, Nguyễn Huy Thiệp đều dùng cấu trúc bội của 7 cả "Tướng về hưu" lẫn "Giọt máu" đều có 14 phần. Bát quái là một hình dung vũ trụ, bảy ngày lại là một hình dung vũ trụ khác nữa bảy ngày của Kinh Thánh Công giáo. Ngoài phần đầu tiên, "Gia cảnh", khiến ta nghĩ đến Sử ký "Thế gia", sáu phần còn lại được kết cấu hài hòa nhưng nổi lên một điều rất kỳ cục phần "Buổi sáng" và "Buổi chiều" đúng là buổi sáng và buổi chiều bình thường của ngày giỗ, với phần "Ngày giỗ" kẹp vào giữa "Buổi sáng" và "Buổi chiều", nhưng phần "Buổi tối" lại không hoàn toàn là một buổi tối cụ thể nào. Từ đây cần phải nhìn ra yếu tố phúng dụ của "buổi tối" một cách đơn giản nhất, đây là buổi tối của sự suy tàn lão Kiền chết nhưng đồng thời Sinh lại mang thai như trên đã nói, không thể rõ cái thai này là của ai trong số sáu người đàn ông. Sáng Thế ký của Kinh Thánh bao gồm những gì ta đã biết, còn Sáng Thế ký của "Không có vua" thì bao gồm các đồ vật sau "bốn bộ quần áo mỏng, một áo dạ mặc rét, hai áo len, một vỏ chăn hoa, bốn cái xoong nhôm, một cái xoong bột, một cái phích hai lít rưỡi, một cái chậu tắm, một tá khăn bông". Một nhà phê bình ưa thích "hậu hiện đại" tới đây hẳn sẽ lao vào phân tích thủ pháp giễu nhại etc. Nhưng sẽ không có gì ngớ ngẩn hơn thế. Thật ra trong vòng vài chục năm vừa rồi những ai gieo rắc chủ nghĩa hậu hiện đại ở Việt Nam, bày ra ngập tràn những "giễu nhại", "phân mảnh" vân vân đã phạm tội lỗi đổ rác ra chỗ công cộng, làm tràn lan những điều nhảm nhí, rất giống nhai cỏ trệu trạo rồi sản xuất ra một số sản phẩm theo một cái lỗ khác. Tổng chi, ít nhất ta đã có một hình dung lờ mờ về ý nghĩa ẩn sâu của truyện ngắn "Không có vua", những gì thực sự làm nên giá trị cho nó. Ngôn ngữ mà Nguyễn Huy Thiệp sử dụng không bao giờ tạo thuận lợi cho mọi sự nhìn nhận đi sâu xuống hiển nhiên là nó quá mức vớ vẩn nếu so với tính chất trang nghiêm của Sử ký hay của Kinh Thánh, và thật hoang mang khi thấy quẻ Đoài của bát quái cầm dao đứng trước quẻ Cấn mà rít lên "Cút đi! Anh mà đụng vào cô ấy là tôi chém liền!" nhưng đây cũng chính là thời điểm ta thấy được, "Cấn" tượng trưng cho núi và "Đoài" tượng trưng cho sông được đặt tên như vậy không hề vu vơ, hai quẻ đối lập cặp đối lập đủ duy nhất của một bát quái nhếch nhác này thực sự phải đối đầu với nhau. Thật ra, chỉ cần hình dung hai người công nhân bàn về Kant hay một tài xế taxi đọc Nhật ký của Kafka là ta cũng đã thấy chuyện như vô lý cũng vẫn có lý. Và quan trọng hơn cả, "Không có vua" cần phải được kéo xuống thấp hơn nữa, đến những gì cơ bản và sơ đẳng. Toàn bộ câu chuyện cũng thuần túy là sự bốc lên của các "passion" dục vọng, tức là những gì căn cốt nhất, sơ khai nhất của con người. * * * Trong cuốn sách bàn về các biến hóa của tâm hồn và biểu tượng của chúng cuốn sách đánh dấu sự ly khai giữa Jung và Freud, khi mà Jung bắt đầu thấy rằng libido không có ý nghĩa lớn đến như thế, con người cá nhân cũng không có ý nghĩa lớn đến như thế, Jung viết "các xung đột sơ khai của loài người lưu giữ một căn cước độc lập với thời gian và không gian". Những gì đã có, ở mức độ sơ đẳng nhất, sẽ không bao giờ mất đi. OEdipe thật ra là người cùng thời với chúng ta. Câu chuyện của con người tham vọng nhất là câu chuyện về sáng thế, về khởi sinh của vũ trụ. Huyền thoại là các cách diễn đạt của tham vọng ấy. Trong sinh hoạt cơ bản của con người, và chiếm vai trò trung tâm của huyền thoại, là nghi lễ Mircea Eliade từng chỉ ra, mọi nghi lễ đúng đều là miêu tả khởi sinh của vũ trụ, đều làm vũ trụ mới có thể sinh ra. Ta sẽ đến với hai lần xuất hiện nghi lễ trong "Không có vua" một lần trong "Ngày giỗ" và một lần trong "Ngày Tết". Khi các nhân vật cúng cho bà vợ chết từ lâu của lão Kiền, ta thấy câu chuyện giống như trò hề với ông Vỹ em trai bà Nhớn quá cố - hai cái tên này đều được đặt với dụng ý gây cười, sự nhỏ mọn được hình dung như to lớn, kỳ vĩ - tuyên bố mình là người "vô thần" đây cũng là dấu chỉ cho thấy điều ngược lại của "vô thần", cũng như cái tên cô con dâu "Sinh" vừa mang ý nghĩa đúng là "sinh" lại vừa hướng đến điều ngược lại, "tử". Đó là khi tất cả các yếu tố của bát quái thiếu trừ Khiêm - "yếu tố lạc quẻ" tập hợp lại, có thêm vài người khách. Còn có một cảnh liên quan đến nghi lễ nữa, ở phần "Buổi tối" đọc kinh "Vô thường" để lão Kiền chết đi được; người đọc kinh lại chính là Khiêm, người đã không có mặt ở nghi lễ trước đó, ngày giỗ mẹ. Một nghi lễ không đúng không tạo ra gì hết. Đây là một thế giới, một vũ trụ đang tan rã, nó không gượng nổi sức sống ngay cả trong nghi lễ. Đoạn duy nhất yên bình và có sức sống trong "Không có vua" nằm ở nghi lễ thứ hai "Ngày Tết". Đây là khi mọi yếu tố chính của bát quái thiếu đều đi vắng, người cử hành nghi lễ là Sinh và Khiêm, với Tốn ta nhớ đây là người con út bị tâm thần, nên vừa thuộc về bát quái vừa không thuộc về đó đốt pháo. Một vũ trụ cũ cần được chết đi, thay vào đó là một vũ trụ mới. Chỉ các yếu tố nào không thực sự thuộc về vũ trụ cũ kia mới đủ sức tạo ra được sự khởi sinh này. Nghi lễ đã thành công vì nó đúng, sau đó Sinh có thai với ai thì ta không rõ, lão Kiền chết, và đến phần cuối, "Ngày thường", thì ta đã chuyển sang một vũ trụ hoàn toàn mới. Lão Kiền đã chết, đứa bé mới sinh chưa có tên, ngoài đó ra ta có Cấn, Đoài, Khiêm, Khảm, Tốn, Sinh, My Lan và Mỹ Trinh, tám yếu tố mới cho một bát quái đầy đủ. Chỉ khi này, lúc "vua" đã mất đi, sự xộc xệch của vũ trụ cũ đã được xử lý thông qua nghi lễ, một vũ trụ mới đã có thể ra đời, đầy đủ. Câu chuyện hạ tông, trở về "ngày thường", với chút ngậm ngùi về một quá vãng phát ngôn từ Sinh "Nhưng thương lắm!" Tôi thấy văn chương của Nguyễn Huy Thiệp đặc biệt gần với văn chương của một nhân vật Borges. Cả hai không làm gì khác ngoài viết đi viết lại những khởi sinh của vũ trụ. Có thể nào động đến những vấn đề siêu hình trầm trọng như vậy thông qua các hình thức hết sức giản lược của ngôn từ không? Có chứ, đơn giản chính là nền tảng nhất, và minh chứng chính là Borges và Nguyễn Huy Thiệp đấy còn gì. Một người đọc giỏi, không vướng nhiều định kiến, sẽ tức khắc nhìn thấy giá trị văn chương của Nguyễn Huy Thiệp nằm ở mức độ nào. Một trong những ví dụ quan trọng nhất mà ta từng có là Claudio Magris.
Uploaded byNguyen Thi Hong 0% found this document useful 0 votes6 views19 pagesCopyright© © All Rights ReservedAvailable FormatsPDF, TXT or read online from ScribdShare this documentDid you find this document useful?Is this content inappropriate?Report this Document0% found this document useful 0 votes6 views19 pagesKhông Có Vua - Nguyễn Huy ThiệpUploaded byNguyen Thi Hong Full descriptionJump to Page You are on page 1of 19Search inside document You're Reading a Free Preview Pages 7 to 17 are not shown in this preview. Buy the Full Version Reward Your CuriosityEverything you want to Anywhere. Any Commitment. Cancel anytime.
Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp Nguyễn Huy Thiệp sinh năm 1950, quê huyện Thanh Trì, Hà Nội. Thuở nhỏ ông cùng gia đình lưu lạc khắp nông thôn đồng bằng Bắc Bộ, từ Thái Nguyên qua Phú Thọ, Vĩnh Phúc… Năm 1960, gia đình chuyển về quê, định cư ở xóm Cò, làng Khương Hạ, Hà Nội. Năm 1970, ông tốt nghiệp khoa sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và lên dạy học tại Tây Bắc đến năm 1980. Năm 1980, ông chuyển về làm việc tại Bộ Giáo dục và Đào tạo, sau đó, làm việc tại Công ty Kỹ thuật trắc địa bản đồ, Cục Bản đồ cho đến khi về hưu. Nguyễn Huy Thiệp chịu ảnh hưởng giáo dục chủ yếu của ông ngoại, vốn là người am hiểu nho học và mẹ, vốn là người sùng đạo Phật. Ông xuất hiện khá muộn trên văn đàn Việt Nam với vài truyện ngắn đăng trên Báo Văn nghệ năm 1986. Tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp in dấu ấn khá đậm nét về nông thôn và những người lao động. Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp Sở trường của Nguyễn Huy Thiệp là truyện ngắn, có thể tạm được phân loại như sau Về lịch sử và văn học Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết, Nguyễn Thị Lộ, Mưa Nhã Nam, Chút thoáng Xuân Hương… Truyện ngắn mang hơi hướm huyền thoại hoặc “cổ tích” Những ngọn gió Hua Tát, Con gái thủy thần, Giọt máu, Muối của rừng, Chảy đi sông ơi, Trương Chi… Về xã hội VN đương đại Không có vua, Tướng về hưu, Cún, Sang sông, Tội ác và trừng phạt… Về đồng quê và những người dân lao động Thương nhớ đồng quê, Những bài học nông thôn, Những người thợ xẻ… Tướng về hưu Thương nhớ đồng quê Mưa Nhã Nam Tội ác và trừng phạt Chảy đi sông ơi Những người thợ xẻ Sang sông Trương Chi Chút thoáng Xuân Hương Kiếm sắc Vàng lửa Phẩm tiết Mưa Nguyễn Thị Lộ Huyền thoại phố phường Cún Đời thế mà vui Những bài học nông thôn Cánh buồm nâu thuở ấy Muối của rừng Không có vua Giọt máu Con gái thủy thần Đưa sáo sang sông Sống dễ lắm Hạc vừa bay vừa kêu thảng thốt Những ngọn gió Hua Tát Mười truyện trong bản nhỏ
Phân tích truyện ngắn “Không có vua”_Nguyễn Huy Thiệp Dàn ý Tóm tắt truyện Đề tài, chủ đề Ý nghĩa nhan đề Tư tưởng của truyện Cảm hứng truyện Những giá trị thẩm mĩ Bài làm chi tiết Tóm tắt truyện ngắn Không có vua” Lão Kiền làm nghề chữa xe đạp, vợ lão đã mất mười một năm trước nhưng lão vẫn ở vậy. Nhà lão Kiền có năm người con trai Cấn là con trưởng, làm nghề cắt tóc. Dưới Cấn là Đoài – công chức ngành giáo dục, Khiêm – nhân viên lò mổ, Khảm – sinh viên đại học và Tốn – người em út bị bệnh thần kinh, người teo tóp, dị dạng. Sinh là vợ của Cấn, về làm dâu nhà lão Kiền đã được mấy năm. Gia đình lão Kiền là một gia đình không có tôn ti trật tự, ăn cơm không ai mời ai, cha con, anh em thường xuyên cãi cọ, chửi bới, châm biếm nhau, thậm chí còn có những hành động bạo lực. Dường như chỉ có Tốn là đáng yêu nhất, nó rất chăm chỉ làm việc nhà và hay giúp đỡ Sinh, cư xử với Sinh bằng lòng tốt vô bờ bến. Ngày giỗ bà Nhớn vợ lão Kiền, sau khi cúng xong, lão Kiền bảo ông Vỹ - em trai bà Nhớn ra lạy chị nhưng ông ta đi theo Cách mạng, mấy chục năm nay không thờ cúng gì nên chẳng biết khấn vái thế nào. Đoài thì đang chặt thịt gà trong bếp, hai tay đầy mỡ cũng ra vái lạy, xin mẹ phù hộ về đường công danh. Khảm thì ngồi với mấy người bạn học tán tỉnh nhau. Trong lúc dọn mâm, nhân lúc vắng người, Đoài buông những lời cợt nhả, chòng ghẹo Sinh, khiến Sinh bật khóc. Cấn thấy căn bếp lộn xộn, bát đũa chưa rửa liền mắng Sinh và xô đổ chồng bát. Buổi chiều, khi mọi người đang ăn thì Khiêm đi làm về, không thấy thằng Tốn đâu. Hóa ra vì nhà có việc nên Cấn đã nhốt thằng Tốn vào trong cái buồng cạnh nhà xí vốn trước là chuồng lợn nay để than củi. Biết chuyện, Khiêm tức giận ném cái gạt tàn thuốc lá vào mặt Cấn và xô vào đạp túi bụi khiến Cấn bị gẫy răng, máu bê bết. Khiêm dùng xẻng phá khóa mở của cho Tốn, thằng Tốn thấy nhà bẩn lại lập tức đi lau nhà, lão Kiền thì chỉ thấy tiếc cái khóa hỏng. Sinh bị mất chiếc nhẫn, mọi người cho rằng do bạn của Khảm lấy cắp, Khảm và Cấn bèn đi đòi. Ở nhà, Sinh đi tắm, lão Kiền nhìn trộm con dâu tắm. Tốn thấy vậy chỉ cho Đoài hành động của bố liền bị Đoài tát ngã vập mặt vào cái xô. Cuối cùng Tốn lau nhà tìm thấy cái nhẫn của Sinh, nhưng khi Cấn và Khảm trở về trong bộ dạng thảm hại vì mấy con chó béc-giê nhà kia thì lão Kiền lại bảo là Sinh giấu cái nhẫn trong cạp quần. Cấn mắng Sinh là “Đồ khốn nạn” rồi tát Sinh một cái nảy đom đóm mắt. Đoài cầm con dao ngăn lại dọa nếu Cấn còn đánh Sinh nữa thì sẽ đâm Cấn. Lão Kiền thì tiếc cái búa mà hai đứa con mang đi đòi lại nhẫn đã bị mất. Gần Tết, lão Kiền đi rút tiền tiết kiệm, mua quà cho Tốn và Sinh còn lại đưa cho Cấn giữ hết. Đoài lại dụ dỗ, gạ gẫm Sinh nhưng Sinh quyết liệt từ chối. Lúc giao thừa chỉ có Khiêm, Tốn và Sinh ở nhà. Đó là một buổi tối giao thừa vui vè và cảm động. Khiêm nhường Sinh lễ gia tiên trước vì Sinh là “bề trên”, rồi Khiêm mừng tuổi cho Sinh, Sinh lại mừng tuổi cho Tốn. Sau đó, lão Kiền và vợ chồng Cấn đi chúc Tết hàng xóm, Đoài ở nhà tiếp khách nhưng anh ta thậm chí không biết nhà người hàng xóm đến thăm mình có những ai và người hàng xóm cũng vậy. Tháng năm, Lão Kiền bị ốm, chữa cả Tây y, Đông y đều không khỏi, đến tháng mười thì phát hiện bị u não. Các con lão tính toán chi tiêu thấy rằng đã tốn kém rất nhiều để chữa bệnh cho cha và suy nghĩ về việc để cho bố chết thì hơn. Khi Cấn và Khiêm đang phân vân thì Đoài nói “Ai đồng ý bố chết giơ tay, tôi biểu quyết nhé”. Cuối cùng lão Kiền cũng được phẫu thuật, khi ngồi đợi ngoài phòng mổ, Đoài và Khảm rất lo lắng vì bố chưa viết di chúc. Sau đó, cũng chỉ có Sinh tận tình chăm sóc, phục dịch lão, còn Đoài và Khảm thì sợ lây bệnh nên có ý lảng tránh. Khi lão Kiền sắp mất, bà Hiển – em gái lão chép được bài kinh đẻ đọc giải tội giúp lão ra đi thanh thản. Đoài là người “nhiều chữ” nhưng không chịu đọc vì chữ viết xấu, cuối cùng chính Khiêm – người con tai làm nghề đồ tể lại đọc kinh cho cha nghe suốt đêm đến nỗi lạc cả giọng. Khoảng bốn giờ sáng hôm đó lão Kiền chết, Đoài rất mừng vì “may quá. Ông cụ đi rồi” và hăng hái đi mua quan tài. Một trăm ngày sau khi lão Kiền qua đời, Sinh sinh con gái. Trong lúc mọi người đang mở tiệc ăn mừng thì có người đến báo tin ông Vỹ - cậu ruột của các con ông Kiền mới chết đêm qua nhưng Đoài nói“Cứ gác lại đã, các cụ già chết đi có gì là lạ” và bảo mọi người hãy tiếp tục cuộc vui. Đề tài và chủ đề Đề tài Cuộc sống con người trong xã hội hiện đại Cuộc sống gia đình câu chuyện về gia đình ông Kiền. Cuộc sống xã hội quan hệ giữa gia đình ông Kiền với các gia đình hàng xóm. Chủ đề Sự suy thoái, xuống cấp của đạo đức và văn hóa truyền thống trong xã hội hiện đại. Phân tích Biểu hiện về sự băng hoại đạo đức qua sơ đồ trên và triết lý nhân sinh - Thứ nhất bức tranh con người đồ vật hóa dẫm đạp lên đạo đức truyền thống + Quan hệ giữa lão Kiền và 5 thằng con trai “ Lão Kiền suốt ngày cau có. Mọi người không ai thích lão. Lão kiếm ra tiền, lão cãi nhau với mọi người như cơm bữa, lời lẽ độc địa. Như với Đoài, lão bảo "Mày ấy à? Công chức gì mặt mày? Lười như hủi, chữ tác chữ tộ không biết, chỉ giỏi đục khoét". Hay với Khảm, cậu sinh viên năm thứ hai "Đồ ruồi nhặng! Học với chả hành! Người ta dạy dỗ mày cũng phí cơm toi”. Với Cấn, lão có đỡ hơn, thỉnh thoảng cũng khen, nhưng lời khen lại quá lời chửi "Hay thật, cái nghề cạo râu ngoáy tai của mày, nhục thì nhục nhưng hái ra tiền". Hay các chi tiết lão Kiền ăn nói tục tĩu với con cái, coi đồng tiền cao cả hơn tình yêu thương khi người các con xây xát vì vật lộn với con bécgiê khi đi gây sự đòi chiếc nhẫn của Sinh từ người bạn của Khảm “Lão Kiền hỏi Khảm "Có mang búa về không?". Khảm cáu "Tí nữa mất mạng với hai con chó bécgiê còn búa với lại kìm gì?". Lão Kiền bảo "Thế lại toi trăm bạc"; hay “ chúng mày cứ giết nhau đi, tao càng mừng” ->Chữ “ Cha” theo nghĩa nào? + Quan hệ với Sinh qua cách ứng xử của người Bố chồng “Lão Kiền loay hoay dưới bếp, nghe tiếng dội nước ở trong buồng tắm, thở dài, bỏ lên nhà. Đi vài bước, lão Kiền quay lại, vào trong bếp, bắc chiếc ghế đẩu, trèo lên nín thở ngó sang buồng tắm. Trong buồng tắm, Sinh đứng khỏa thân.” ->Sự băng hoại đạo đức của người cha, bản ngã phần Con lớn hơn phần Người trong người cha. + Quan hệ với Sinh qua cách ứng xử của Đoài- em chồng "Đoài nhìn chăm chú vào khoảng lõm ở ngực chị dâu, nơi chiếc khuy bấm vừa tuột ra, bâng quơ"Tình ơi tình, mình ơi mình, tình hở hang lắm cho mình ngẩn ngơ"; "Đoài đi theo, lấy cơm vào cặp lồng. Đoài đưa tay chạm vào lưng Sinh, Đoài bảo "Người chị tôi cứ mềm như bún";Đoài hổn hển "Tôi nói trước, thế nào tôi cũng ngủ được với Sinh một lần"; “Tối nay tôi vào buồng Sinh nhé!” ->Sự phi giáo dục từ nhân vật học thức về mối quan hệ gia đình, cách ứng xử trong gia đình. + Quan hệ anh em trong một gia đình “Cấn giơ nắm đấm trước mặt bố, bảo rằng "Ông liệu tống thằng ấy ra khỏi nhà này, không tôi giết nó"; Khiêm hỏi "Thằng Tốn đâu?". Cấn bảo "Nhà có việc, để nó ra vào bất tiện. Tôi nhốt nó trong cái buồng ở cạnh nhà xí". Khiêm cầm cái gạt tàn thuốc lá trên bàn ném vào mặt Cấn. Cấn kêu "ối" một tiếng rồi ngã lăn ra…” ->Anh em như thể tay chân!? - Thứ 2 bức tranh con người đồ vật hóa dẫm đạp lên đạo đức truyền thống bằng xâm hại bạo lực “Khi Sinh bảo "Tôi có ba đầu sáu tay đâu?" vì làm quần quật mà vẫn bị Cấn hạch tội để cho nhà trên hết nước sôi, Cấn đã trừng mắt "Nói năng thế à? Nhà này không có lệ thế! Mấy cái bát này sao chưa rửa?". Nói rồi, xô chồng bát, đi ra; Khi biết sự thực là Cấn đã nhốt Tốn trong cái buồng ở cạnh nhà xí vì ''Nhà có việc, để nó ra vào bất tiện", Khiêm đã "cầm cái gạt tàn thuốc lá trên bàn ném vào mặt Cấn. Cấn kêu "ối" một tiếng rồi ngã lăn ra. Khiêm xô vào đạp túi bụi";Khi nghe Cấn bảo thấy tận mắt thằng bạn của Khảm lấy cắp nhẫn của Sinh, Khảm bảo "Phải đến nhà nó mà đòi. Không trả thì đánh bỏ mẹ nó đi". Cấn xin đi theo Khảm. Lão Kiền bảo "Mang theo cái búa!"; Khi biết chiếc nhẫn của Sinh chẳng phải bị mất cắp, lại nghe lão Kiền bảo "Vợ mày giấu trong cạp quần chứ đâu", Cấn đã vừa bảo “Đồ khốn nạn" vừa "tát Sinh một cái nảy đom đóm mắt";Khiêm kể về công việc giết lợn. Hai tay cầm hai cực điện dí vào thái dương từng con, "éc" phát là chết. Bị mất điện, phải dùng xà beng quật vào gáy lợn. Gặp con lợn khỏe, quật chục cái không chết, gáy toét cả ra. Một ca Khiêm giết được hơn nghìn con lợn.” ->Trên cơ sở sự băng hoại về đạo đức trong tư tưởng của con người dẫn tới việc sử dụng bạo lực không tình thương của nhân cách con người. Nhìn vào mối quan hệ giữa các nhân vật được phân tích trên đây, khiến cho con người ta phải suy nghĩ lại nhân cách của con người, không thể để con người bị đồ vật hóa, lố bịch hóa một cách triệt để như vậy,đ ể làm mất những giá trị truyền thống của người nhân văn. Văn chương với nhiệm vụ hướng con người đến với Chân- Thiện- Mỹ thì mục tiêu lớn nhất là làm cho con người phải Người hơn. Jean-Paul Sartre nhà triết học hàng đầu của Pháp thế kỷ xx đã từng viết “Theo chúng tôi, trước hết con người tồn tại, có nghĩa là trước hết con người hướng tới tương lai, đồng thời có ý thức về sự hướng tới tương lai đó. Con người trước hết là một dự án project tự tồn tại chủ quan, chứ không như một đám rêu, một vật đang thối rữa, hoặc một cây súp lơ”. Đó chính là đòi hỏi về ý thức chủ quan tồn tại trong bản ngã con người. Họ cần vượt qua để không trở thành những đồ vật vô tri, vô giác, như “một đám rêu, một vật đang thối rữa, hoặc một cây súp lơ”. Triết lý về nhân sinh nhân chi sơ, tính bản thiện đặt ra một câu hỏi lớn và một thách thức lớn đối với con người chân thực. Con người phải như thế nào để phần Người phải chiến thắng phần Con trong thực thể Con người? Và làm người phải chăng là một thách thức lớn? Ý nghĩa nhan đề không có vua Mỗi tác phẩm ra đời đều mang một số phận khác nhau. Có những tác phẩm vừa ra đời nhưng đã chết ngấm trong làng văn học,nhưng có những tác phẩm vừa ra đời đã gây ra một vấn đề đáng để suy ngẫm và bàn với tác phẩm văn học “Không có vua” cũng ra đời, nó đã tạo ra nhiều luồng dư luận trái chiều, nó đã gây được tiếng vang ngay từ nhan đề của mình. Như chúng ta đã biết,vua chính là đấng quân vương của một nước,là người đứng đầu của một quốc gia. Để đất nước thịnh vượng, yên ổn, ấm no,hạnh phúc thì cần phải có một ông vua anh minh, sáng suốt, yêu dân như con. Vua chính là biểu tượng của sự tôn ti trật tự trong xã hội. “Không có vua” của Nguyễn Huy Thiệp là một câu chuyện được kể về một gia đình, ở đó chính là bức tranh thu nhỏ của một xã hội,một đất nước nếu không có câu chuyện ấy,tác giả đã dùng ngòi bút của mình để lên án phê phán những thói xấu đang làm đảo điên xã hội. => "Không có vua", gợi nhớ từ "loạn cờ" được nhân vật Thủy - cô con dâu trong Tướng về hưu sử dụng. Khi nghe ông Thuấn ngỏ ý muốn giúp ông Cơ và cô Lài dọn đỡ việc nhà, cô Thủy liền phản đối “Cha là tướng, về hưu cha vẫn là tướng. Cha là chỉ huy. Cha mà làm lính thì dễ loạn cờ". “Không có vua” hay “loạn cờ” là trạng thái nhân thế đảo điên, không tôn ti trật tự, không chuẩn mực giá trị, không điểm tựa tinh thần. Tư tưởng của truyện ngắn “Không có vua” – Nguyễn Huy Thiệp. Thông qua việc phê phán sự nghịch dị các mối quan hệ trong gia đình, Nguyễn Huy Thiệp đưa ra bài học nhân sinh về con người. Con người sống tồn tại cần có chữ “Tâm” để làm cho mối quan hệ giữa người với người đỡ gay gắt và tốt đẹp hơn. Những người trong gia đình lão Kiền, thực chất ai cũng có những nét đẹp ẩn trong tâm hồn. Nhưng bình thường họ sống với nhau bằng sự ích kỉ, bằng bạo lực và những mưu tính riêng, vì thế, họ hằn học với nhau, hành hạ nhau cả về thể xác và tinh thần. Cuộc sống trong cái gia đình mất cân bằng âm-dương ấy chẳng khác nào một bàn cờ loạn vì “không có vua”. Tác giả còn đưa ra thuyết nhân quả của nhà Phật. Những điều mà lão Kiền đối xử với con cái, nhận lại hậu quả là lũ con biểu quyết cho bố chết. Lão yêu thương con, nhưng tình yêu thương ấy lại tồn tại dưới những lời đay nghiến, mỉa mai, khinh bỉ,… vì thế mà nó đẩy lão và lũ con xa nhau bởi lòng khinh ghét. Thật là chua xót biết mấy! Qua đó, tác giả như ngầm bảo chúng ta về sự tồn tại và cách cư xử của mỗi con người trong mối quan hệ với gia đình và xã hội. Người với người hãy sống lương thiện hơn. Dù giọng văn của NHT rất khách quan, lạnh lùng, nhưng ẩn sau đó, ta nhận ra tấm lòng thiết tha của tác giả với người, với đời. Tác giả muốn nhắn nhủ với chúng ta rằng cuộc đời này cũng giống như ly rượu có ngọt ngào và cả những đắng cay lời nhân vật Đoài, cuộc đời này “khổ chứ. Nhục lắm. Vừa đau đớn vừa chua xót. Nhưng thương lắm!”lời nhân vật Sinh. Chữ “thương lắm” rưng rưng ấy cho ta thấy, cuộc đời này thật sự đáng quý và đáng sống, nên hãy sống sao cho xứng đáng, cho đẹp. Về cảm hứng trong tác phẩm “Không có vua” của Nguyễn Huy Thiệp. Cảm hứng thế sự truyện ngắn Không có vua là một tác phẩm không những tiêu biểu cho sáng tác của nhà văn xuất sắc Nguyễn Huy Thiệp mà còn tiêu biểu cho cả một nền văn học mới. Tác giả đã hướng ngòi bút của mình tới những vấn đề nhân sinh giản dị, gần gũi nhưng có nhiều điều đáng để đưa ra bàn bạc. Nguyễn Huy Thiệp không tập trung xây dựng hình ảnh Đất nước rũ bùn đứng dậy sáng lòa hay khắc họa những chị Tư, anh Núp… như biểu tượng của cả dân tộc; cũng không viết về cái không khí sục sôi của lòng căm hờn quân giặc… mà quan tâm, để ý tới cuộc sống bình thường của những con người bình thường, trong một xã hội hết sức bình thường. Điều này có thể được chứng minh qua thế giới nghệ thuật trong tác phẩm Hệ thống nhân vật tác giả lựa chọn cho ngòi bút của mình những nhân vật dù có tính cách riêng, đặc điểm riêng nhưng họ hệt như là những con người chân thực từ cuộc sống bước vào vậy. Họ là một gia đình bố Kiền, 5 người con trai Khảm, Khiêm, Đoài, Cấn, Tốn và 1 cô con dâu trưởng tên Sinh. Mỗi người một ngành, một nghề. Hệ thống ngôn ngữ cũng là những khẩu ngữ hay được sử dụng, có cả những câu chửi tục, chửi thề, những tiếng khóc, tiếng than… chứ không cầu kì, hoa mĩ. Các sự kiện Tác giả kể chuyện về gia đình này cũng toàn là những chuyện hằng ngày. Nào là chuyện buổi sáng, buổi tối, chuyện ngày giỗ, ngày Tết… Cô Sinh làm bữa, thằng Tốn lau nhà, ông Kiền sửa xe, Cấn cắt tóc, Khảm xin tiền học, Khiêm mang thịt từ lò mổ về… Tác phẩm cứ như một vở kịch với các cảnh diễn khác nhau, ghép lại, rời rạc nhưng vẫn có sức hấp dẫn lạ kì. Không gian quanh quẩn trong gian nhà chật chội của bố con nhà nọ, thỉnh thoảng có mở rộng tới bệnh viện,… nhưng cũng không có gì mới lạ, hư cấu một cách thái quá. Tất cả đều quen thuộc với mỗi con người. Thời gian cũng là những ngày từ sáng đến tối, cũng những ngày giỗ, ngày Tết như ai. Thế giới được miêu tả trong tác phẩm sống động như chính cuộc sống ngoài đời thực. Con người, cảnh vật hiện lên chân thật, gần gũi. Tất cả những thứ giản dị, đời thường ấy bước vào trang truyện hồn nhiên nhưng gợi cho người đọc bao suy nghĩ, trăn trở. Cuộc sống ấy, từ một gia đình như bao gia đình khác mà suy ra hình ảnh của cả xã hội. Cái xã hội cũng trọng tiền khinh tình, cũng bát nháo, nhố nhăng, cũng không có điểm tựa, cũng mất thăng bằng như thế. Tính thế sự của tác phẩm vì thế mà càng thêm sâu sắc, thấm thía. Nguồn cảm hứng này cũng là nguồn cảm hứng của cả một nền văn học sau đổi mới- khi các nhà văn quan tâm hơn đến số phận của những con người nhỏ bé, giản dị, không ai nhớ mặt đặt tên, quan tâm hơn đến vấn đề thực sự đặt ra đằng sau cuộc sống tưởng như không có gì để bàn cãi ấy. Cảm hứng phế phán, phản tỉnh không bằng lòng với những chiều kích hiện thực mở ra trước mắt, Nguyễn Huy Thiệp đã hướng ngòi bút của mình vào những địa hạt bình thường nhất, ít ai để ý nhất để tung ra những vấn đề nóng bỏng thu hút sự quan tâm của tất cả mọi người. Ông lay động, thức tỉnh mọi người nhìn sâu vào hiện thực. Đằng sau vẻ bề ngoài vốn êm đềm, mượt mà của gia đình nhà kia, đâu ai biết là cả một sự rối rắm, một ổ những thể loại người, đủ cả, từ già đến trẻ, từ thằng trí thức đến bọn bình dân… Với ngòi bút có sức mạnh đánh thức người đọc đừng vội tin, dạy người ta biết nghi ngờ tất cả, Nguyễn Huy Thiệp còn nhân đó mà moi móc ra đủ các loại bệnh tật của cái gia đình bình thường này, như biểu tượng cho một trong vô số những ung nhọt của xã hội. Nhà văn phê phán nhiều thứ lắm cái lối sống không tôn ti, trật tự, không có phép tắc, không đạo đức; cái loại người đê tiện, xấu xa mà giả danh tri thứ; cái tật xu nịnh cấp trên; cái tục thờ cúng truyền thống đang ngày càng mai một… Tất tần tật bằng ấy thứ nhồi nhét trong mấy ngày sinh hoạt của gia đình chồng chị Sinh. Chả trách câu chuyện cứ như muốn ứa ra, muốn vỡ ra vì ngột ngạt, dồn đọng. Nhà văn kể câu chuyện bằng một giọng quá ư là khách quan, quá ư là lạnh nhạt, tới mức dửng dưng, thờ ơ. Nhưng chính cái vẻ bất cần ấy lại tô đậm thêm tính chất phê phán với những vấn đề mà ông đặt ra trong tác phẩm của mình. Ông không phê phán bằng cách chửi thẳng vào mặt nhân vật của mình mà để bọn người ấy tự chửi nhau, không bình luận, đánh giá gì mà để bản thân cái khách quan ấy tự đánh giá chính nó. Chính cảm hứng phê phán, phản tỉnh này khiến câu chuyện của Nguyễn Huy Thiệp trở nên có chiều sâu, có tính triết lí và hấp dẫn bạn đọc nhiều hơn. Phân tích các phạm trù thẩm mĩ trong “Không có vua” của Nguyễn Huy Thiệp Cái đẹp Ý nghĩa thẩm mĩ là một trong những phương diện tạo nên giá trị của tác phẩm văn học. Bên cạnh cái hài, cái bi, ta còn thấy được cái đẹp trong truyện ngắn “Không có vua” của Nguyễn Huy Thiệp. Một điều dễ dàng nhận thấy đó là có sự pha trộn giữ các phạm trù thẩm mĩ trong tính cách của từng nhân vật tạo nên tính đa diện cho từng nhân vật. Nguyễn Huy Thiệp luôn nhìn nhân vật của mình dưới các góc độ khác nhau, chính vì thế nhân vật của ông không có ai tốt hoàn toàn, cũng không có ai xấu hoàn toàn. Đó là cách nhìn một cách toàn diện bởi lẽ trong con người ta luôn tồn tại phần “con” và phần “người”, giữa ý thức, trách nhiệm và khát vọng cá nhân. - Tuy nhiên trong truyện ngắn này ta thấy hiện lên hai nhân vật mà cái đẹp nổi trội hơn đó là Sinh và Tốn. Trước hết là Sinh, người phụ nữ mới về làm dâu nhà lão Kiền, vợ của Cấn. Cô về làm dâu nhà lão Kiền cũng có nghĩa là cô đã lạc vào thế giới “phàm phu tục tử” của những người đàn ông, những người sống mạnh mẽ, sòng phẳng và có phần hoang dã. Sinh xuất hiện trong một gia đình toàn đàn ông được ví như cơn mưa giữa mùa đại hạn kéo dài "Sinh lọt vào gia đình nhà này tựa như cơn mưa rơi xuống đất nẻ. Không khí dịu lại. Vài tháng đầu, lão Kiền không gây sự gì với con cái. Cấn là người hạnh phúc nhất. Anh cầm kéo cắt tanh tách, đối xử với khách hết sức nhã nhặn"... Nhưng với bản tính chân thực, lương thiện và cũng gọi là “có ít kiến thức”, Sinh đã làm thay đổi không khí sinh hoạt của cả gia đình lão Kiền. Sinh về làm dâu mang theo cả một “phản đề” lớn cho cái thế giới ngồn ngộn những hỗn độn ấy. Có Sinh ngôi nhà mang một dáng vẻ mới. Một “vị vua” hiện diện. Một “trật tự như thế” đã được thiết lập. Cha con lão Kiền thôi bớt thô tục và cục cằn. Nhưng không lâu sau, chính Sinh lại là người phải hứng chịu hậu quả của lối sống ngột ngạt đó, đến mức cô phải đưa dao ra dọa Đoài để y không đến gần mình…Với vai trò người phụ nữ duy nhất trong gia đình, Sinh đảm nhiệm việc nội trợ trong gia đình, ngày phục vụ 3 bữa cơm chu tất cho 6 người đàn ông. Nét đẹp ở nhân vật Sinh còn ở chỗ cô dành tình cảm thương yêu cho Tốn như đối với người em trai bằng tuổi Tốn ở nhà cô vậy. Tuy có lúc thất vọng, chán nản với cuộc sống nhà chồng nhưng Sinh vẫn cảm thấy "Khổ chứ. Nhục lắm. Vừa đau đớn, vừa chua xót. Nhưng thương lắm”. - Trong giữa bối cảnh gia đình hỗn độn như vậy, Nguyễn Huy Thiệp đã xây dựng nên hình ảnh nhân vật Tốn với một dụng ý nghệ thuật sâu xa. Tốn tuy có hình thể xấu xí "bị bệnh thần kinh, người teo tóp, dị dạng" nhưng không vì thế mà những phẩm chất bên trong nhân vật này bị mất đi. Tốn "không chịu được bẩn", anh là người duy nhất trong gia đình quan tâm đến việc lau nhà. Ngay cả khi bị nhốt trong nhà xí vừa được thả ra, thấy nhà bẩn là anh lại lao ngay vào làm nhiệm vụ thường ngày của còn "hay giúp đỡ Sinh, nó cư xử với Sinh bằng lòng tốt vô bờ bến". Có thể nói Tốn là người duy nhất trong gia đình đối xử với Sinh bằng tình cảm chân thật của mình. Phải chăng Tốn yêu quý Sinh, coi Sinh như người chị, người mẹ của mình vì cậu mồ côi từ nhỏ. "Những ý thích nhỏ nhặt của cô, nó thực hiện với lòng tận tụy cầm thú" , Nửa đêm, nếu Sinh buột miệng "có ô mai thì thích" là sẽ có ngay ô mai. Không biết Tốn lấy tiền ở đâu, đi mua lúc nào, chuyện này chịu”. Khi bốn ông anh biểu quyết để bố chết thì Tốn bật khóc hu hu...Đó là tiếng khóc của một con người tuy không ý thức được mình nhưng lại là tiếng khóc chân thực nhất. Ta đặc biệt chú ý đến chi tiết Khi được Khiêm giải phóng khỏi buồng cạnh nhà xí, Tốn "chân tay mặt mũi đen nhẻm nhe răng cười" rồi "lết đôi chân què đi lên nhà"... Nhưng phải chăng ở nhân vật này lại tồn tại nguyên sơ tất cả bản năng thiện của loài người khi loài người chưa được "văn minh hóa". Khi đặt Tốn cạnh hai ông anh cử nhân Đoài và Khảm, người đọc được dịp cùng đối thoại Phải chăng hệ quả của quá trình văn hóa hóa, văn minh hóa là bản năng thiện gặp gỡ phương Đông "nhân chi sơ tính bản thiện" của con người có nguy cơ bị triệt tiêu? Nếu chỉ có Sinh và Tốn thì có lẽ nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp trở nên đơn điệu. Không có lão Kiền, Đoài, Khiêm thì câu chuyện sẽ không được nhìn nhận một cách đa chiều. Thoạt nhìn có thể thấy nhân vật trong truyện chia làm 2 phe, trí thức và lao động chân tay. Nhưng dù ở phe nào đi nữa thì những con người ấy đều hiện lên với sự hỗn độn, bát nháo, không có vua. - Đó là một Lão Kiền suốt ngày cau có, chực cơ hội để xổ toẹt vào con cái những lời độc địa; bỉ ổi nhìn trộm con dâu tắm khỏa thân; nhẫn tâm khi đồng lõa, hợp tác với con cả nhốt con út bệnh hoạn vào buồng cạnh nhà xí để “giữ thể diện” với khách khứa... Nhưng lão cũng đáng thương khi thành thực "Đàn ông chẳng nên xấu hổ vì có con b...” "Làm người nhục lắm" "Mẹ cha mày, tao chỉ nghĩ thân tao, thì lũ chúng mày được thế này à?"... Lão đã hi sinh hạnh phúc cá nhân, một đời sống cho con cái, sống vì con cái. Và lão trở nên đáng yêu khi Rằm tháng Chạp, đi ngân hàng rút lãi tiết kiệm, mua cho Tốn cái áo sơ mi, mua cho Sinh đôi bít tất, còn lại tiền đưa cả cho Cấn; khi sáng mồng một Tết áo quần tề chỉnh cùng vợ chồng con cả đi chúc Tết hàng xóm... Và nữa, khi lão Kiền tắt thở, trên môi lão "thấp thoáng nụ cười, trông rất hiền lành, trung hậu". Phải chăng, chỉ khi "mãn hạn làm người", con người ta mới được trở về với bản tính thiện sơ nguyên của mình? - Đoài một người có trình độ cao nhất trong gia đình, làm ở Bộ giáo dục lại là người bỉ ổi, vô đạo đức, vô giáo dục nhất, trình độ ở đây không tỉ lệ thuận với đạo đức. Đoài đóng vai tính cách chẳng ăn nhập gì với vai xã hội "Lười như hủi, chữ tác chữ tộ không biết, chỉ giỏi đục khoét!" như lời lão Kiền chửi. Giữa bữa cơm gia đình, có thể nhìn chăm chú vào khoảng lõm ở ngực chị dâu, nơi chiếc khuy bấm vừa tuột ra, bâng quơ trơ trẽn khiến chị dâu ngượng chín cả mặt. Ngang nhiên sàm sỡ, đòi ngủ với chị dâu, đòi đuổi anh trai ra khỏi nhà để chiếm chị dâu. Có thể đang khi chặt thịt gà, tay đầy mỡ, cứ để thế không rửa tay, chạy lại bàn thờ mẹ vái lia lịa. Lạy gì không lạy lại lạy mẹ phù hộ cho "đi học nước ngoài, kiếm cái xe Cub". Biểu quyết để bố chết khi lâm bạo bệnh. Thở phào "Thật may quá" khi nghe bố tắt thở. Gác lại đã việc nhận điện ông cậu chết vì đang dở cuộc vui, với lại "Các bác già chết đi có gì là lạ?" Ở nhà thì cãi lại cha, đối xử tệ với người thân nhưng ra ngoài lại xu nịnh cấp trên để mong thăng quan, tiến chức... Nhưng ở nhân vật này cũng tỏ ra tử tế "Con xin lỗi bố", biết cảm thông, chia sẻ với người khác vì thông cảm cho con người đàn ông của bố, vì biết ơn sự hy sinh của bố sau khi nghe bố "nói chuyện đàn ông". Đoài tỏ ra nghĩa khí bênh vực kẻ yếu "Anh mà đụng vào cô ấy là tôi chém liền!" khi anh trai sắp giở trò vũ phu với chị dâu. Đoài cũng biết giúp Tốn dọn nhà đón mẹ con Sinh về. Trong bữa tiệc mừng thành viên mới, Đoài rót rượu ra cốc, đứng lên nói "Cốc rượu này tôi dâng cuộc sống…Vì đứa trẻ mới sinh ra kia, vì tương lai của nó"... - Khiêm một nhân vật có thể được coi là đồ tể, vũ phu nhất nhưng lại có tấm lòng ấm áp, bao dung, thương yêu mọi người nhất. Công việc của hắn là tay đồ tể "ngoại hạng", mắt "vằn tia máu đỏ", một công việc sát sinh, ăn cắp của công một năm "ăn cắp đến nửa tấn thịt" theo phép thống kê của Đoài, và "hai trăm sáu mươi bộ lòng" theo phép thống kê của Khảm, sòng phẳng đến tàn nhẫn với anh trai khi ép anh trai nhận tiền công cắt tóc "Không phải người ngoài, anh không nhận thì thôi, tôi đi hàng khác, tôi bắt thằng khác ngoáy tai cho tôi"... Nhưng Khiêm lại rất mực tử tế với chị dâu trước mâm cỗ đêm giao thừa, Khiêm bảo "Chị là bề trên, chị cứ vái ba vái trước còn đâu tôi khấn"; Khiêm bảo "Năm mới, chúc chị Sinh sức khỏe, may mắn. Mừng tuổi chị một nghìn, chị cầm lấy để cho có lộc" khiến Sinh rớm nước mắt. Khiêm rất mực tử tế với đứa em tật nguyền là Tốn đã nổi giận lôi đình khi biết anh cả chỉ vì ích kỉ muốn giữ thể diện mà có thể nhẫn tâm nhốt thằng em vào buồng cạnh nhà xí. Khiêm đã "tặng" cho Sinh và Tốn một buổi tối giao thừa vô cùng "cảm động". Khiêm cũng tử tế rất mực với bố. Bên giường bệnh của bố, khi đêm đã khuya, mọi người đã đi ngủ, "Khiêm vẫn ngồi đọc. Đọc đi rồi lại đọc lại. Đại ý bài kinh xin đức Phật giải tội cho người sắp chết, để nghiệp chướng cho người sống chịu, lời lẽ khó hiểu. Suốt đêm Khiêm ngồi đọc, lạc cả giọng"... hài Tính cách đặc biệt của một số nhân vật Sự hài hước trong tính cách được làm nên từ sự đối lập giữa nghề nghiệp, địa vị, học vấn với trình độ văn hóa và bản chất con người - Đoài rõ ràng là công chức ngành giáo dục, nhưng bản chất lại giống như một kẻ vô giáo dục dâm ô, đê tiện, hám tiền của, bất hiếu… - Khảm sinh viên đại học, cũng là kẻ có học, nhưng tính cách phóng túng, không có chính kiến, cũng bị mắc bệnh hám của và bất hiếu giống như người anh thứ hai của mình. => sự phi lí trong tương quan giữa “vai xã hội” và tính cách, ắt hẳn ban đầu sẽ gây cho người đọc tiếng cười nhẹ nhàng mang tính chất mỉa mai, chế giễu. Trong lời thoại Một số đoạn hội thoại của mấy người con lão Kiền có lẽ có thể dựng thành hài kịch, họ trêu đùa nhau, “đá đểu” nhau, cạnh khóe nhau một cách hài hước, thậm chí lấy cái dung tục để gây hài. Chẳng hạn + Đoạn thoại giữa ông Kiền, Đoài và Khảm về câu chuyện sự tích ông Táo trong bữa cơm ngày 23 tháng Chạp, + Đoạn thoại giữa Đoài với ông hàng xóm ngày mùng một Tết. + Đoạn thoại giữa Khảm-My Lan-Việt Hùng trong ngày giỗ bà Nhớn. => Cách trần thuật lạnh lùng, hết sức khách quan đã làm cho tiếng cười bật ra một cách tự nhiên và sinh động. Trong hành động, thói quen của nhân vật Có thể chắt lọc ra trong truyện rất nhiều chi tiết hài hước mà thoạt tiên, người đọc ai cũng phải bật cười - Những chi tiết nói về hành động ngây ngô của thằng Tốn luôn cặm cụi lau sàn, sẵn sàng giúp đỡ chị Sinh bất cứ lúc nào và thực hiện việc đó ngay lập tức sau khi có lệnh…. => Tiếng cười thương cảm - Bữa cơm gia đình cha con lão Kiền “ăn cơm chẳng mời ai, sáu người đàn ông, ai cũng cởi trần, mặc quần đùi cười nói thản nhiên, chan chan húp húp như rồng cuốn” => Tiếng cười bật lên từ sự phi lí tới nực cười trong lối ứng xử của các thành viên trong gia đình với nhau, suồng sã tới vô lối,chẳng có một chút tôn ti trật tự nào. - Sổ kế toán “gián điệp” của lão Cấn, giấc mơ của Khảm sau khi nghe Khiêm kể chuyện giết lợn của mình... =>Tiếng cười vui vẻ nhẹ nhàng bật lên từ những chi tiết hài hước bi Thế nhưng, dường như tất cả những tiếng cười ấy đều ẩn chứa trong nó một sự tình có vấn đề, khiến người ta cười xong mà phải suy ngẫm, ám ảnh, có cái gì như nỗi đau, như bi kịch trong câu chuyện của gia đình lão Kiền ấy. Như cách nói của một nhà nghiên cứu, Nguyễn Huy Thiệp có tài “nói chuyện hài mà cái bi luôn chầu chực để xé nát cái cười thoáng qua đó thôi”. Đọc “Không có vua” của Nguyễn Huy Thiệp cũng vậy, cái cười chỉ kịp thoáng qua, và ngay lập tức, người ta nhận thấy cái buồn đau ẩn chứa trong đó - Buồn cho luân thường đảo lộn, tình người phôi pha cha không tôn trọng con cái, con coi cha như kẻ bằng vai phải lứa, anh em tính toán với nhau, không coi nhau ra gì… - Buồn cho đạo đức con người đang dần bị băng hoại, đạo đức truyền thống trong cơn đảo điên không hề có chỗ đứng sự băng hoại đạo đức của người cha khi để phần “con” lấn át phần người chi tiết lão Kiền xem trộm con dâu tắm, sự đê tiện của một kẻ mang danh học thức như Đoài, một chàng công tử chỉ thích phong lưu và vô dụng như Khảm, một kẻ bạo lực và dữ dằn như Khiêm… - Buồn cho cả một xã hội coi đồng tiền quan trọng hơn cả tình người và sự sống của những người thân, coi “tiền là vua”, nó có lẽ là đầu mối cho mọi sự băng hoại. Tựu chung lại, có lẽ phải nói rằng, truyện “Không có vua” từ đầu chí cuối là một câu chuyện buồn, cái cười chỉ là cái bề mặt và là cái thoáng qua mà thôi. Nói như vậy để thấy rằng, giá trị thẩm mĩ của truyện được toát lên trước hết ở sự đan xen hữu ý giữa cái hài và cái bi, làm nên những ý nghĩa sâu sắc. Phụ lục Phân tích những điểm tốt, điểm xấu của các nhân vật trong Không có vua của Nguyễn Huy Thiệp Nhân vật Điểm xấu Điểm tốt Lão Kiền Suốt ngày cau có, chực cơ hội để xổ toẹt vào con cái những lời độc địa Bì ổi nhìn trộm con dâu tắm khỏa thân. Nhẫn tâm đồng lõa hợp tác với con cả nhốt con út bệnh tật vào buồng cạnh nhà xí để giữ thể diện với khách khứa Lão cũng đáng thương khi thành thực”Đàn ông chẳng nên xấu hổ vì có cái b…”. “Làm người nhục lắm”… Đứng trước bàn thờ khấn vợ lão đã khóc Lão trở nên đáng yêu khi rằm tháng chạp đi ngân hàng rút tiền tiết kiệm mua cho Tốn một chiếc áo sơ mi, mua cho Sinh một đôi bít tất, còn lại tiền đưa cho Cấn. Sáng mùng một tết áo quần chỉnh tề cùng vợ chồng con cả đi chúc tết hàng xóm. Cấn Nóng tính, vũ phu”Tát Sinh một cái nảy đom đóm mắt”. Đồng lõa với bố nhốt em trai út vào buồng cạnh nhà xí để giữ thể diện. Kiếm ra tiền để trang trải cuộc sống gia đình. Là “kế toán” của gia đình, mọi khoản chi tiêu đều ghi chép rất rõ ràng Đoài Là công chức giáo dục nhưng lại là kẻ vô giáo dục” Lười như hủi, chữ tác, chữ tộ không biết chỉ giỏi đục khoét” Mua chuộc nịnh bợ cấp trên Giữa bữa cơm gia đình có thể nhìn chăm chú vào khoảng lõm giữa ngực chị dâu nơi chiếc khuy áo vừa tuột ra. Ngang nhiên sàm sỡ đòi ngủ với chị dâu Đòi đuổi anh trai ra khỏi nhà để chiếm chị dâu. Đang chặt thịt gà, tay dầu mỡ, không rửa tay chạy lại bàn thờ khấn vái lia lịa Biểu quyết để bố chết khi bố lâm bệnh Cũng có lúc tỏ ra hối lỗi “Con xin lỗi bố” khi nhận ra những hy sinh của người bố Tỏ ra bênh vực kẻ yếu “Anh mà đụng vào cô ấy là tôi chém liền” Cũng biết giúp Tốn dọn dẹp nhà cửa đón mẹ con Sinh. Khiêm Tay đồ tể “ngoại hạng”, Mắt “vằn tia máu đỏ”. Một năm ăn cắp đến nửa tấn thịt và hai tram sáu mươi bộ lòng lợn. Sòng phẳng đến tàn nhẫn với anh trai khi ép anh trai nhận tiền công cắt tóc. Tử tế với chị dâu và đứa em tật nguyền. Khiêm đã “tặng” cho Sinh và Tốn một đêm giao thừa vô cùng “cảm động” Kính trọng chị dâu nhường chị cúng tổ tiên trước bởi vì chị là bề trên Bên giường bệnh của bố, khi đêm đã về khuya mọi người đã ngủ Khiêm đã đọc kinh đến “lạc cả giọng” để bố ra đi được thanh thản. Khảm Đi dân quân lại ăn trộm khoai lang của dân theo lời của Mỹ Lan bạn Khảm nói Ti tiện thỏa hiệp với Đoài nếu tán được Mỹ Trinh con gái ông “Ánh sáng ban ngày” thì thưởng cho em cái gì. Là sinh viên Đại học, có giáo dục. Tốn Bị bệnh thần kinh, người teo tóp dị dạng. Là người chăm chỉ Luôn giúp Sinh lau nhà giặt giũ. Tốn không chịu được bẩn cứ chốc chốc lại cầm cái xô và giẻ lau ra lau nhà. Ở nhà cứ ai thay quần áo ra Tốn lại cầm đi giặt, giặt rất sạch và phơi phóng cẩn thận. Tính cách Ít nói ai hỏi cũng cười bén lẽn và trả lời nhát gừng Tốn đối xử với Sinh bằng lòng tốt vô bờ bến “ Những ý thức của Sinh nó thực hiện bằng long tận tụy cầm thú” Khi bốn người anh biểu quyết để bố chết thì Tốn bật khóc huh u. Khi được Khiêm giải phóng khỏi buồng cạnh nhà xí, Tốn” Chân tay mặt mũi đen nhẻm nhưng vẫn nhe răng ra cười” Sinh Giấu nhẫn vào cạp quần rồi nói với chồng là bị mất trộm Sinh là người phụ nữ nhẫn nhịn chồng, chăm sóc gia đình nhà chồng hết mực, ngày ba bữa cơm Bị em chồng sàm sỡ nhưng cô nhẫn nhịn không nói với chồng sợ làm mất hòa khí gia đình nhà chồng Chung thủy với chồng
không có vua nguyễn huy thiệp